PCtoday.vn
Thứ bảy , ngày 11 tháng 2 năm 2012
PCtoday.vn
 
 
PCtoday.vn
 
Windows
PCtoday.vn
 
Linux
PCtoday.vn
 
Đồ họa
PCtoday.vn
 
Bảo mật
PCtoday.vn
 
Mạng máy tính
PCtoday.vn
 
Tin học văn phòng
PCtoday.vn
 
Kiến thức cơ bản
PCtoday.vn
 
PCtoday.vn
ket qua bong da truc tuyen
PCtoday.vn PCtoday.vn PCtoday.vn PCtoday.vn PCtoday.vn PCtoday.vn PCtoday.vn PCtoday.vn PCtoday.vn PCtoday.vn  
PCtoday.vn
PCtoday.vn KẾT NỐI PCtoday.vn  

Chính phủ điện tử và vấn đề xây dựng chính phủ điện tử ở Gia Lai

Thứ tư , 30 / 6 / 2010, 12: 39 (GMT+7)

Tỉnh Gia Lai cũng đã có nhiều bước tiến đáng kể trong việc triển khai Chính phủ điện tử (CPĐT) tại tỉnh. Có 15 cơ quan hành chính đã có WebSite, trong đó WebSite của UBND tỉnh hoạt động tương đối tốt (năm 2009, được Bộ Thông tin và Truyền thông xếp hạng thứ 12 trong số 60 WebSite các tỉnh thành phố); 10 đơn vị đã triển khai văn phòng điện tử; 75% máy tính được kết nối Internet, đa số cơ quan cấp tỉnh, huyện đã kết nối mạng nội bộ (LAN).

         

Nguyễn Ngọc Hùng

                                                  (Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Gia Lai)

 

           

Hiện nay, có nhiều khái niệm về Chính phủ điện tử (E-Government), các khái niệm này cũng vài điểm khác nhau. Tại Việt Nam, các nhà nghiên cứu thường sử dụng khái niệm Chính phủ điện tử theo nghĩa rộng, do Ngân hàng Thế giới (World Bank) đưa ra: "Chính phủ điện tử là việc các cơ quan chính phủ sử dụng một cách có hệ thống Công nghệ thông tin và viễn thông (CNTT-VT, như mạng diện rộng, Internet, tính toán di động) để thực hiện các quan hệ với công dân, với doanh nghiệp và với những cơ quan hành chính. Những công nghệ này có thể cải thiện các dịch vụ bao gồm các giao dịch với các doanh nghiệp và công dân, nâng cao hiệu quả quản lý. Lợi ích thu được sẽ là giảm thiểu tham nhũng; tăng cường tính trong suốt, sự tiện lợi, sự tăng trưởng và giảm chi phí".

            Liên quan nhiều đến Chính phủ điện tử là khái niệm "Dịch vụ công trực tuyến" :

Dịch vụ hành chính công những dịch vụ liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật, không nhằm mc tiêu lợi nhuận, do cơ quan nhà nưc (hoặc tổ chức, doanh nghiệp đưc ủy quyền) có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân dưi hình thức các loại giấy tờ có giá trị pháp trong các nh vc mà quan nhà nưc đó quản lý.

Dịch vụ công trực tuyến dịch vụ hành chính công các dịch vụ khác của cơ quan nhà nước đưc cung cấp cho các tổ chức, cá nhân trên môi trưng mng.

Dch v công trc tuyến mức đ 1: là dch v công trực tuyến đm bo cung cp đy đủ c thông tin v quy trình, thủ tc; h; thi hn; phí và lệ phí thc hin dch vụ.

Dịch vụ công trực tuyến mức độ 2: dịch vụ công trực tuyến mc đ 1 cho phép ngưi s dụng tải v các mẫu văn bản khai báo đ hoàn thin hồ sơ theo yêu cu. Hồ sơ sau khi hoàn thiện đưc gi trực tiếp hoặc qua đưng bưu điện đến quan, tổ chức cung cấp dịch vụ.

Dịch vụ công trực tuyến mức độ 3: dịch vụ công trực tuyến mc đ 2 cho phép ngưi sử dụng điền gi trc tuyến các mẫu văn bản đến quan, tổ chc cung cấp dịch vụ. Các giao dịch trong quá trình xử hồ cung cấp dịch vụ đưc thực hin trên môi trưng mạng. Việc thanh toán lệ phí (nếu có) và nhận kết quả đưc thực hiện trực tiếp tại cơ quan, t chức cung cấp dch vụ.

Dịch vụ công trực tuyến mức độ 4: dịch vụ công trực tuyến mc đ 3 và cho phép ngưi sử dụng thanh toán lệ phí (nếu có) đưc thực hiện trực tuyến. Việc tr kết qu thể đưc thc hiện trc tuyến, gi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đến ngưi sử dụng.

 

            Nhiều văn bản của Chính phủ và tỉnh đã chỉ đạo các định hướng, giải pháp để triển khai Chính phủ điện tử. Giai đoạn đầu là tập trung xây dựng các cơ sở dữ liệu; công khai thông tin lên mạng thông qua các cổng thông tin điện tử (hoặc WebSite); xây dựng việc chia sẻ, trao đổi thông tin trong từng nội bộ cơ quan và giữa các cơ quan (văn phòng điện tử); cung cấp các dịch vụ công trực tuyến cho người dân và doanh nghiệp.

            Tỉnh Gia Lai cũng đã có nhiều bước tiến đáng kể trong việc triển khai Chính phủ điện tử (CPĐT) tại tỉnh. Có 15 cơ quan hành chính đã có WebSite, trong đó WebSite của UBND tỉnh hoạt động tương đối tốt (năm 2009, được Bộ Thông tin và Truyền thông xếp hạng thứ 12 trong số 60 WebSite các tỉnh thành phố); 10 đơn vị đã triển khai văn phòng điện tử; 75% máy tính được kết nối Internet, đa số cơ quan cấp tỉnh, huyện đã kết nối mạng nội bộ (LAN). Có 1.635 dịch vụ công trực tuyến ở mức độ 2; khoảng 80% cán bộ, công chức, viên chức (CBCCVC) sử dụng máy vi tính phục vụ công tác; 15% CBCCVC có sử dụng hộp thư điện tử (email).

            Tuy nhiên, so với sự phát triển chung của cả nước và các tỉnh trong khu vực Miền Trung và Tây Nguyên, việc triển khai Chính phủ điện tử ở Gia Lai vẫn còn ở mức thấp (năm 2009, Gia Lai được xếp hạng 53/63 tỉnh thành về mức độ sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng CNTT). Hầu hết, trong các cơ quan nhà nước, việc sử dụng máy tính chỉ dừng ở mức soạn thảo văn bản, lưu trữ dữ liệu cá nhân, chia sẻ và trao đổi thông tin cá nhân, sử dụng vài phần mềm quản lý chuyên ngành (kế toán, quản lý công văn...); việc công khai thông tin lên mạng theo quy định (Luật Công nghệ thông tin , Nghị định 64/2007/NĐ-CP) còn rất hạn chế. Tồn tại này có rất nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là các nguyên nhân sau :

            Một là, rào cản về nhận thức và tâm lý, thói quen. Nhiều cán bộ, công chức chưa nhận thức rõ tầm quan trọng của triển khai CPĐT trong công cuộc cải cách nền hành chính. Không ít CBCC nghĩ rằng xây dựng văn phòng điện tử làm "rắc rối thêm công việc, tốn thêm thời gian, bị bó buộc thời giờ "; không muốn công khai thông tin lên mạng vì sợ nhiều người biết và giám sát, do đó không quan tâm hoặc không cho đưa thông tin lên WebSite cơ quan; sợ phải học thêm về kiến thức CNTT ; sợ phải thay đổi phong cách và thói quen làm việc (từ tất cả trên giấy tờ sang làm việc trên môi trường mạng...). Nhiều CBCC có suy nghĩ rằng "lâu nay làm như vậy (thủ công) công việc vẫn trôi chảy, việc gì phải thay đổi cho mệt !".

            Hai là, thiếu sự quan tâm của người đứng đầu cơ quan trong việc triển khai CPĐT. Theo quy định của Nghị định 64/2007/NĐ-CP, người đứng đầu cơ quan nhà nước "trực tiếp chỉ đạo và chịu trách nhiệm về hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực, địa phương và tổ chức, cơ quan mình" nhưng trong thực tế ở Gia Lai, hầu hết thủ trưởng cơ quan giao cho cấp phó chịu trách nhiệm, không kiên quyết trong chỉ đạo thực hiện, không quan tâm bố trí kinh phí, cán bộ... Cũng có lãnh đạo cơ quan sợ trách nhiệm khi đầu tư cho CNTT và thay đổi quy trình công việc của cơ quan. Cũng có người ngại học hoặc sợ mất thời gian học về CNTT.

            Ba là, Gia Lai thiếu nguồn lực về công nghệ thông tin và viễn thông. Về nguồn nhân lực, số lượng đại học về CNTT ở Gia Lai chỉ vài chục người, không có người nào có trình độ trên đại học về CNTT; cán bộ, công chức, viên chức hầu hết chưa được đào tạo về ứng dụng CNTT; chỉ một vài cơ quan có cán bộ chuyên trách về CNTT; chưa có chính sách thu hút, đãi ngộ cán bộ CNTT như một số tỉnh khác. Về nguồn lực tài chính, Gia Lai là tỉnh còn nghèo nên đầu tư kinh phí hàng năm cho ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước rất thấp so với các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên; dẫn đến tình trạng đầu tư nhỏ lẻ, thiếu đồng bộ, không tạo được sự phát triển tổng thể, thiếu hiệu quả.

            Bốn là, các chủ trương, chính sách và công tác quản lý nhà nước về  CNTT-VT chưa theo kịp quá trình xây dựng CPĐT của cả nước. Vai trò của cơ quan tham mưu về CNTT-TT của tỉnh (Sở Thông tin và Truyền thông) chưa được phát huy, sự phối hợp giữa Sở TT&TT với các đơn vị, địa phương trong ứng dụng CNTT chưa gắn kết, thiếu hiệu quả. Việc triển khai các chủ trương, chương trình, kế hoạch của Trung ương về Chính phủ điện tử còn chưa thực hiện hoặc thực hiện chậm, thiếu đồng bộ. Chưa có sự kết hợp chặt chẽ giữa việc xây dựng CPĐT với cải cách hành chính. Chưa có biện pháp xử lý những cá nhân, cơ quan, đơn vị không triển khai ứng dụng CNTT và tham gia kế hoạch xây dựng Chính phủ điện tử (như đưa vào tiêu chí thi đua khen thưởng, tiêu chí đánh giá cán bộ, bổ nhiệm cán bộ...).

            Vậy làm thế nào để phát huy những kết quả đã có, khắc phục những tồn tại nói trên để đưa Gia Lai theo kịp tiến độ trung bình của cả nước trong tiến trình xây dựng Chính phủ điện tử? Nhìn lại những tồn tại và nguyên nhân nêu trên, chặng đường xây dựng Chính phủ điện tử ở Gia Lai quả thật là còn lắm gian truân ! Nếu không có sự quan tâm và những biện pháp quyết liệt có lẽ Gia Lai sẽ ngày càng tụt hậu so với cả nước cũng như khu vực. Từ kinh nghiệm của các địa phương khác, có những định hướng và giải pháp chính cần làm là:

            Giải pháp xuyên suốt là phải tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của CBCC về vai trò của CNTT và truyền thông trong việc cải cách nền hành chính, xây dựng Chính phủ điện tử; đặc biệt là đối với lãnh đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương. Thực hiện tốt Luật Công nghệ thông tin, Luật Giao dịch điện tử, Nghị định 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 và các Nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch của Tỉnh ủy, UBND tỉnh về ứng dụng CNTT. Kiên quyết cải tiến lề lối làm việc theo hướng hiện đại hóa, chuyên môn hóa.

            Nền tảng của thành công trong việc xây dựng Chính phủ điện tử là chính sách và con người. Do đó phải quan tâm trong việc ban hành các chủ trương, chính sách, kế hoạch, chương trình về CNTT, từ cấp tỉnh đến cấp xã. Đặc biệt cần có chương trình đào tạo, bồi dưỡng CNTT cho CBCC; chính sách thu hút và đãi ngộ cán bộ CNTT. Đưa việc ứng dụng CNTT theo hướng xây dựng chính quyền điện tử vào các tiêu chí thi đua khen thưởng hàng năm và trong các tiêu chí bổ nhiệm, bổ nhiệm lại. Xây dựng yêu cầu trình độ về ứng dụng CNTT trong xét tuyển công chức, viên chức (như là ngoại ngữ hiện nay).

            Có biện pháp nâng cao vai trò và trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương trong việc xây dựng chính quyền điện tử theo đúng quy định tại Nghị định 64/2007/NĐ-CP. Người đứng đầu cơ quan phải làm gương trong việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT và hiện đại hóa lề lối làm việc.

            Tận dụng các nguồn lực dành cho CNTT; tăng cường đầu tư cho CNTT, bố trí chi đầu tư CNTT trong nguồn chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên của từng đơn vị, địa phương theo đúng quy định trong Luật CNTT: "... ưu tiên bố trí ngân sách cho CNTT, bảo đảm tỷ lệ tăng chi ngân sách cho CNTT hàng năm cao hơn tỷ lệ tăng chi ngân sách nhà nước.(Điều 62)". Cần chú ý theo đúng định hướng chung của Chính phủ là tập trung xây dựng hạ tầng thông tin, các cơ sở dữ liệu, sử dụng các phần mềm quản lý, xây dựng trang tin điện tử, đào tạo về CNTT, xây dựng các dịch vụ hành chính công trực tuyến (toàn bộ các thủ tục hành chính, ít nhất là mức độ 2 và một số ở mức độ 3 hoặc 4), đẩy mạnh việc công khai thông tin, chia sẻ, trao đổi thông tin qua mạng.

            Phát huy vai trò của cơ quan chuyên trách về CNTT - truyền thông ở địa phương và đơn vị trong việc xây dựng và triển khai các kế hoạch về CNTT; tham mưu các chủ trương, chính sách về CNTT; theo dõi, giám sát, tổng hợp và đôn đốc thực hiện việc tham gia xây dựng chính phủ điện tử ở các đơn vị, địa phương. Tích cực học tập kinh nghiệm của các địa phương khác, kêu gọi sự hỗ trợ từ các địa phương, doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh cùng sự ủng hộ của người dân.

            Chính phủ đã có chủ trương và đang xem xét phê duyệt Đề án "Sớm đưa Việt Nam thành quốc gia mạnh về Công nghệ thông tin", nếu tỉnh Gia Lai không nhạy bén thay đổi, chuẩn bị các điều kiện, môi trường và độ sẵn sàng thì khó mà thực hiện đề án này.

            Mới đây, Tỉnh ủy Gia Lai đã có Chỉ thị số 15-CT/TU ngày 11/02/2010 "về tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng đối với công tác ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin trên địa bàn tỉnh" với nhiều chỉ đạo cụ thể, được phổ biến đến toàn bộ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động, lực lượng vũ trang, đồng bào các dân tộc trong tỉnh. Hy vọng đây là một "cú hích" đủ lực để việc xây dựng chính phủ điện tử ở Gia Lai khắc phục những tồn tại, vượt qua "sức ỳ tư duy", tiến nhanh trong việc ứng dụng CNTT góp phần thực hiện tốt Đề án "Sớm đưa Việt Nam thành quốc gia mạnh về Công nghệ thông tin"của Chính Phủ; từng bước hiện đại hóa nền hành chính, phục vụ tốt hơn trong việc cung ứng các dịch vụ công cho người dân và doanh nghiệp; tạo điều kiện cho việc minh bạch hóa, trong suốt hóa nhằm hạn chế quan liêu, tham nhũng và lãng phí./.

(Theo TCBCVT )
CÁC BÀI KHÁC  
-    Báo chí đóng góp hiệu quả thực hiện Đề án 30(22 / 6 / 2010)
-    Kỷ niệm 85 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam: Là báo chí cách mạng...(21 / 6 / 2010)
-    Đề sóng PT-TH đến được vùng sâu, vùng xa(17 / 6 / 2010)
-    Xây dựng điểm Điểm bưu điện VHX rút ngắn khoảng cách vùng sâu, vùng xa(11 / 6 / 2010)
-    Rác thải vũ trụ gia tăng, đe dọa an toàn thông tin(6 / 6 / 2010)
 
Ket qua bong da truc tuyen
PCtoday.vn